☘️🥢KHÔ GÀ LÁ CHANH -THƠM NGON, GIÒN TAN VÀ ĐẢM BẢO SỨC KHỎE ☘️🥢

BẠN ĂN KHÔ GÀ LÁ CHANH ở đâu? Bất kỳ đâu cũng đều hợp lý cả.
CÔNG SỞ: nhâm nhi 1 chút khô gà thơm ngon, giòn tan sẽ mang lại cảm giác hưng phấn, chia sẻ tạo niềm vui với đồng nghiệp.
TẠI NHÀ: tại sao phải đi xa xôi khi có thể ở nhà cùng xem một bộ phim lãng mạn và nhâm nhi khô gà lá chanh thơm lừng tối thứ 7
PICNIC NGOÀI TRỜI: đi rừng hoặc tắm biển, mang theo khô gà lá chanh sẽ tạo không khí vui vẻ với bạn bè và gia đình
💰💰 500 GRAM - 165k/hộp
💰💰 2 hộp 500 GRAM- 320k
🍴 Khô gà lá chanh - XỨNG ĐÁNG VỚI GIÁ TIỀN
🏅CAM KẾT:
Vị ĐẬM ĐÀ, VỪA ĂN cực hấp dẫn
Từng thớ thịt THƠM LỪNG, GIÒN TAN
Thành phần 100% TỰ NHIÊN, không chất bảo quản
Đảm bảo VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
Nhà em làm, chuẩn vị.
----------------------------------------------
HOTLINE 0961.090.479
Giao hàng tận nơi - Có giao tỉnh.
#khôgà
#khôgalachanh
#khôgàxécay


Trà Ôn - một trong những vùng đất cây lành, trái ngọt của vùng ĐBSCL thơ mộng. Trên bờ là những khu vườn, những dãy cù lao cây xanh trái ngọt, dưới sông tàu ghe chờ đón để mang những sản vật của vùng đất phù sa đến với mọi miền đất nước. Thuyền đi, ghe lại, không biết từ bao giờ đã xuất hiện một khu chợ trên sông, mà người ta quen gọi là chợ nổi Trà Ôn.
chợ nổi trà ôn

Chợ nổi Trà Ôn thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Chợ nổi là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng ở một số tỉnh của khu vực Tây Nam Bộ như: Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Cà Mau... nhưng trong trí nhớ nhiều người, chợ nổi Trà Ôn là một trong những khu chợ tồn tại lâu đời và gắn với nhiều nét sinh hoạt văn hóa của người dân trong khu vực.

Hàng ngày, các loại nông sản tươi nguyên được nhà vườn phân phối cho ghe buôn theo dạng bán sỉ. Chợ nổi Trà Ôn hoạt động cả ngày và đông nhất là vào buổi sáng. Nét đẹp của chợ nổi là những mái chèo khoan thai, chở đầy nông sản đến với các ghe buôn. Mặc cho con nước bồng bềnh, sinh hoạt chợ búa vẫn xôn xao, tấp nập. Sau nhiều ngày thu mua, các ghe rời chợ với những khoang chở đầy hàng nông sản và nhanh chóng bắt đầu chu kỳ mới trên khu chợ nổi. Cây trái bốn mùa, ghe đi, ghe tới, cứ thế chợ nổi vẫn hoạt động liên tục, tô điểm thêm nét hấp dẫn cho thị trấn Trà Ôn thơ mộng.


Ở chợ nổi Trà Ôn, ngoài hoạt động chợ búa còn có cuộc sống gia đình, hàng xóm. Dễ thấy ở đây là sự niềm nở, nhiệt tình của những người làm bạn cùng sông nước. Cuộc sống thương hồ lênh đênh đây đó, làm cho mọi người trở nên thân thiết, gắn bó với nhau hơn. Chợ nổi Trà Ôn đã đi vào cuộc sống, đi vào lòng người một cách bình dị, chân thành như thế. Chợ nổi Trà Ôn từ lâu đã trở thành “thương hiệu” nổi tiếng của khu vực ĐBSCL nói chung và huyện Trà Ôn nói riêng. Nhưng, bến chợ nổi Trà Ôn ngày một vắng khách, không phải vì cạn kiệt mặt hàng nông sản, mà nhiều người bất mãn vì nạn trộm cướp hoành hành, thêm vào đó là vấn đề quy hoạch bến bãi chưa thật hợp lý.

Những ngày cuối năm, không khí chợ nổi Trà Ôn càng thêm đông đúc, những mặt hàng nông sản từ chợ đầu mối sẽ phục vụ tốt hơn nhu cầu vui Xuân, đón Tết của bà con ở vùng trên, miệt dưới. Chợ nổi trên sông - một trong những nét văn hóa đặc trưng của vùng ĐBSCL nói riêng và chung trên cả nước, cần được bảo tồn và phát huy. Có dịp ghé lại Trà Ôn, du khách phương xa vẫn mong được ngắm một chợ nổi Trà Ôn quyến rũ như nó từng có.

Chùa Tiên Châu tọa lạc trên một cù lao sông Cổ Chiên, thuộc làng Bình Lương và An Thành (nay là ấp Bình Lương, xã An Bình, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long).

Tên chính thức của ngôi chùa này là Di Đà tự hay chùa Tô Châu. Sở dĩ gọi là Di Đà tự vì chùa thờ Phật Di Đà, còn gọi là chùa Tô Châu là vì có phong cảnh đẹp và thơ mộng với những cây liễu rủ bóng xuống dòng sông phẳng lặng trông rất giống như xứ lụa Tô Châu của Trung Quốc vậy.

Theo Đại Nam nhất thống chí, chùa Tiên Châu do Hoà thượng Đức Hội có pháp danh Tánh Minh, xây dựng lại bằng gỗ với tên gọi là Tiên Châu Di Đà Tự. Mãi đến cuối thế kỷ thứ XIX, các vị sư ở chùa Vĩnh Tràng ( Mỹ Tho) qua hành đạo. Giai đoạn này chùa Di Đà đã bị xuống cấp nên tín đồ phật tử đã trùng tu tái thiết lại ngôi chùa vào năm Kỷ Hợi (1899). Từ đó ngôi chùa có tên chính thức là Tiên Châu Tự. Kiến trúc ngôi chùa gồm bốn khu: Tiền đường, Chính điện, Trung đường và Hậu tổ. Các gian được bố trí theo kiểu tứ trụ, được nới rộng theo hai chiều ngang, dọc nhờ các kèo dầm, kèo quyết. Bộ giàn trò bằng gỗ quý, mái lợp ngói âm dương, xung quanh đóng vách bổ kho.

Hơn một thế kỷ qua, chùa Tiên Châu được tu sửa nhiều lần, mà lần trùng tu quan trọng nhất là xây dựng vào năm 1960 theo kiến trúc thượng lầu hạ hiên hiện nay. Lần xây dựng này dùng toàn vật liệu hiện đại. Theo đó, mặt tiền chùa được xây bằng bê tông, trên nóc là một căn nhà lầu có năm ngọn tháp nhọn, một tháp lớn ở giữa, bốn tháp nhỏ xung quanh, giữa tháp phía dưới là chữ “Tiên Châu tự”. Hai gian hai bên mặt tiền được xây dựng theo kiểu cổ lầu, bên trong tôn trí tượng Thiện Hữu và Ác Hữu, cũng có hoành phi, câu đối ca tụng.


Nội điện chùa được bố trí rất đẹp, giữa tứ trụ là một khánh thờ tượng Phật Di Đà bằng đất sét rất lớn. Dưới tượng Di Đà là bộ tượng Tam thế: tượng Thích Ca tọa thiền, Thích Ca sơ sinh. Phía sau, đấu lưng với khán thờ Phật Di Đà là Phật Di Lặc cũng rất lớn. Hai bên khán thờ là nơi thờ các vị: Thập Điện Minh Vương, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Địa Tạng, Chuẩn Đề, Hộ Pháp, Tiêu Diện Đại Sĩ, Quan công…

Trung đường và Hậu tổ là nơi thờ các vị Tổ sư Tiền bối, Tổ sư Bồ Đề Lạt Ma và thiện nam tín nữ đã quá vãng. Đây cũng là nơi tiếp khách nên treo rất nhiều tranh khuyến thiện và những câu đối có ý nghĩa thâm trầm.

Bên cạnh sự nổi tiếng về một di tích, danh lam, kiến trúc… chùa Tiên Châu còn được biết đến nhiều bởi truyền thuyết Bãi Tiên.Theo truyền thuyết, làng Bình Lương ngày xưa phong cảnh hữu tình, khí hậu thuận lợi nên nhiều người đến đây lập ấp. Người dân nơi dây chủ yếu sống bằng nghề chài lưới, đánh bắt cá tôm là chính. Họ rất lương thiện và có cuộc sống cộng đồng rất hòa thuận. Vào một đêm trăng sáng, trai tráng trong làng đều chèo thuyền ra sông đánh bắt cá. Trên bãi cồn, trong một căn lều nhỏ dưới gốc bần, một cụ già nằm thao thức. Từng cơn gió nhẹ thổi vào mát mẻ và se lạnh, mang theo mùi hương thoang thoảng của hoa lá hòa quyện với những âm thanh của côn trùng trong lòng đất tạo thành bản giao hưởng du dương trầm bổng. Cụ nhìn ra xa bãi cát trắng xóa lắp lánh ánh trăng mờ. Ánh trăng bàng bạc cùng với luồng ánh sáng lập lòe là những bóng trắng mờ ảo thướt tha uyển chuyển của bao nàng tiên nữ giáng trần, vui chơi trên bãi cát. Câu chuyện được truyền miệng trong làng và từ đó lan xa trong thiên hạ. Cũng từ đó, bãi cát trên khúc sông này được gọi là Bãi Tiên.

Ngày nay, cù lao An Bình không còn bãi cát trắng xóa như ngày nào. Xung quanh chùa nhiều nhà cửa của dân làng mọc lên san sát. Khuôn viên chùa Tiên Châu có nhiều thay đổi, một số hạng mục mới được xây dựng như: cổng chùa, tường rào, tượng Phật Thích Ca tọa thiền dưới gốc bồ đề, tượng Phật Di Lạc, tượng Phật Bà Quan Âm... tạo nên một tổng quan yên tịnh và thanh quang.

Chùa Tiên Châu được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận di tích lịch sử văn hóa, loại hình kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1994.  Đây là một ngôi chùa cổ, có cảnh đẹp không chỉ nổi tiếng ở Vĩnh Long, mà còn nổi tiếng cả vùng ĐBSCL, đã thu hút nhiều tao nhân mặc khách xưa nay.
 Mùa nước nổi đang về, người dân sống ở An Giang, Đồng Tháp, Long An… vui sướng từng giờ từ nguồn lợi lũ mang đến



Sự xuất hiện của những chùm bông vàng rực "lủng lẳng" ở mé sông, bờ đê, con kênh báo hiệu mùa nước nổi đang về. Đâu chỉ gắn bó trong ký ức của mỗi người, loài hoa dân dã còn góp phần nuôi nấng biết bao thế hệ miền sông nước.

Không phải hoa điên điển mà là bông điên điển, đến cách gọi cũng rất Nam Bộ, thân thương như thế! Bông điên điển có vị nhẫn, bùi, ngọt, ăn giòn nên hòa quyện với món nào cũng ngon. Từng chùm bông tươi rói được tuốt nhẹ, nâng niu, trộn ghém ăn sống hay nhúng lẩu, nấu canh chua, đổ bánh xèo, ăn kèm bún… đều hấp dẫn. Người miền Tây khéo ở chỗ, thực phẩm nào nhiều, ăn không hết thì nghĩ đến việc làm khô, đem muối để ăn lâu dài. Bông điên điển trông mong manh vậy mà cũng muối chua được, biến hóa thành món ăn mới, ngon đáo để. Khi những món dự trữ ăn không hết, người ta lại nghĩ đến việc bán để đổi lấy tiền chợ. Vậy là, bông điên điển muối chua được làm cầu kỳ hơn, thêm rau muống, củ cải, đóng hộp lịch sự bán cho khách vãng lai. Chỉ những người xa quê, xa vùng sông nước mới nhớ bông điên điển, chứ sống ngay tại đây, loại hoa thân thuộc này quen đến nỗi mọi người suýt quên đi nét đặc trưng của nó, vốn được mệnh danh là "mai vàng của mùa lũ". Ngày xưa, đến mùa nước nổi, cây điên điển cũng cựa mình vươn cao, khi nước tràn đồng cũng là lúc điên điển trổ bông, oằn cành khoe sắc vàng rực rỡ. Từ bông điên điển gợi nhớ đến từng tháng xuất hiện những loại cá ngon, rau sạch ngoài đồng, ai nấy lại háo hức chờ đợi để thưởng thức vô số đặc sản thiên nhiên ban tặng.

Xưa, mỗi năm cây điên điển chỉ gắn bó với người dân vào mùa lũ. Nay, điên điển trở thành cây sinh kế của nhiều gia đình, thu hoạch quanh năm, muốn ăn mùa nào cũng có. Thật khó tin khi cây điên điển trở thành cây trồng chính của hàng trăm hộ ở các xã Hòa Lạc, Phú Bình, Phú Thành (Phú Tân). Chỉ tính tại ấp Hòa Bình 2 (xã Hòa Lạc), hiện nay đã có hơn 50 hộ trồng điên điển. Những hàng điên điển đều tăm tắp, cây vươn cao quá đầu người, vàng rực bông to, bông nhỏ nổi bật giữa đồng ruộng xanh tươi là lựa chọn của người dân nhiều năm nay. Không phụ mong mỏi của người nông dân, điên điển vươn mình phát triển giúp đời sống ổn định. Trồng điên điển thì dễ mà thu hoạch cực công.


Sâu trong những con kênh thuộc xã Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), đồng ruộng bây giờ đã được bao đê sản xuất lúa, chẳng còn chỗ cho cây điên điển tự mọc sinh sôi. Thay vào đó, người dân tự trồng điên điển để mùa nước nổi về vẫn có bông hái ăn. Bà Nguyễn Thị Lan từ thời trẻ đã đi hái điên điển cho đến giờ vẫn chọn trồng điên điển làm nguồn sống. Bà Lan kể, hơn chục năm trước, điên điển tự nhiên vẫn còn nhiều; đến mùa, mạnh ai nấy chèo xuồng ra đồng hái bông về bán. Lựa cây nào trổ bông dài, trái lớn thì chừa lại để lấy hạt phơi khô, làm giống gieo quanh nhà. Cây điên điển trông mảnh khảnh, yếu ớt mà nhánh nào cũng trổ từng chùm bông nặng trĩu. Tuy gọi là trồng nhưng bà Lan cũng như các hộ khác đều gieo ở cặp bờ kênh, bờ đê, chủ yếu tận dụng chỗ ngập nước để điên điển phát triển tự nhiên. Bông điên điển trổ nhanh đến nỗi, nếu hôm trước hái không kịp, hôm sau hoa đã tàn, kết thành trái nên việc hái bông rất cực công, tranh thủ từ buổi tối hoặc khuya, lúc những cánh bông chưa nở thì đem ra chợ bán mới được giá. Bù lại, loại cây dân dã này đã trao tặng cho con người nguồn sống lý tưởng, nuôi biết bao đứa trẻ miền quê lớn lên, hương vị của loại bông quê nhà vì thế đậm đà cả vị ngọt lòng và tình yêu thương.
Đặc tính kênh rạch chằng chịt đã mang đến cho miền Tây Nam Bộ một hệ thực vật phong phú, nhất là những cây tạp như quao, trâm bầu, bình bát. Có một loại cây khác thân gỗ, lớn cỡ vòng tay người lớn, đó là ô môi.

Dân gian giải thích rằng ô là đen, môi là một bộ phận trên miệng người. Khi ăn loài trái này môi người từ đỏ hồng chuyển sang đen thẫm. Vì thế mà có tên gọi ô môi. Người khác lại cho rằng, do trái ô môi dài mấy tấc, bên trong chứa nhiều ô, gắn liền với mỗi ô là những miếng môi cơm (thịt của trái), vậy mới gọi là ô môi.
Không biết những cách cắt nghĩa ấy khoa học không, chính xác đến đâu, nhưng dẫu sao nó cũng được người bình dân chấp nhận và lưu truyền.


Ô môi cao lớn, cành lá xum xuê, những cành non có lông màu rỉ sắt, cành già màu nâu đen. Lá kép lông chim với nhiều đôi lá phụ dạng thuôn dài tròn cả hai đầu, có phủ lông mịn, màu xanh bóng, gân rõ. Do mọc hoang lâu năm nên xung quanh thân ô môi có nhiều lỗ rỗng do sâu bọ đục khoét để ẩn núp, sinh sống. Lợi dụng điều này, nhiều loài rắn độc cũng thừa cơ chung vào. Vì thế, theo kinh nghiệm rất ít người dám leo trèo lên cây ô môi.
Gió bấc về lành lạnh cũng là lúc cây ô môi rụng hết lá và bắt đầu trổ bông, bông trổ trên cành dài mấy sải tay nhìn giống như hoa đào ở miền Bắc. Trái ô môi còn non có màu xanh lục, cho đến những cơn mưa mùa đổ hột, khoảng sau tiết thanh minh là trái chín. Vỏ trái ô môi cứng, màu nâu đen, có gân nổi ôm tròn từng khía chạy dài từ đầu đến cuối, cong như mảnh trăng lưỡi liềm. Ô môi già chín, người ta dùng tre buộc móc sắt để hái trái


Trái vừa hái xong có mùi khăn khẳn, chan chát, ăn liền sẽ có vị gắt. Theo kinh nghiệm, người ta để mấy bữa cho ô môi ‘nhả” hết nắng ăn mới ngon.
Trái ô môi có hai đường gân chạy dài từ đầu trái cho đến cuống trái. Khi ăn, người ta dùng dao bén róc hai bên mép vỏ mềm. Sau đó, ép hai đường gân đôi bên cho xệu xạo, rồi mới lấy múi ô môi đen nhánh, tròn tròn như đồng tiền, hột dính liền phái trên những miếng thịt ấy. Ô môi có vị ngòn ngọt, cay nồng của nó. Nó phải kết tinh trong suốt một năm trời, nên hương vị thơm quyện đặc trưng khó lẫn vào đâu được

Để có được một nồi chè hột ô môi người ta phải chuẩn bị khá công phu. Khi ăn ô môi, hạt lấy đi rửa sạch, để ráo nước. Lúc cần nấu chè thì đem hột đó ngâm trong nước nóng. Để cả đêm cho hột mềm. Dùng mũi dao nhọn tạch bỏ vỏ hột và cả nhụy ở bên trong. Cơm hột có màu trắng đục rửa qua nước lã cho sạch, để ráo.
Đậu xanh nguyên hột cho vào cối, xay bể đôi, rồi ngâm hồi lâu với nước lạnh cho tróc vỏ.
Bắc nồi lên bếp, bỏ ít lá dứa vào nấu cho ra nước vừa lấy màu xanh, vừa tạo mùi thơm, Sau đó, vớt lá dứa ra, cho nấu đậu xanh vào nấu, chờ đậu xanh nhừ, trút cơm hột ô môi đã chuẩn bị sẵn vào, dùng vá đảo đều. Cuối cùng, là mấy thẻ đường thốt nốt, nước cốt dừa xiêm vừa đủ độ ngọt béo, thế là xong!
Đêm rằm trăng sáng, sau khi múc chén chè cúng bàn ông thiên, rồi dọn chè ra trên chiếc chiếu trải giữa sân trẻ con, người lớn vừa ăn vừa ngâm nga lời bài ca vọng cổ của soạn giả Viễn Châu mà thấm thía bao nỗi niềm cảm xúc: …Ô môi rụng cánh ngoài sân. Mấy mùa hoa nở mấy năm đợi chờ… Ô môi rụng cánh tơi bời. Chuông tắt lâu rồi, tôi còn đứng mong ai!

Cây ô môi có thể trong làm cảnh vì hoa đẹp. Hạt ô môi được trẻ con dùng búng chơi.
Cây ô môi chủ yếu lấy thịt quả làm thuốc. Cơm quả màu nâu đen, vị ngọt, ngâm rượu. Rượu ô môi được nhân dân ta dùng làm thuốc bổ, giúp sự tiêu hóa, làm ăn ngon miệng, ngoài ra còn có tác dụng chữa đau lưng, đau xương.
Thịt cơm quả ô môi là thuốc kích thích tiêu hóa, nhuận tràng.Lá ô môi dùng tươi đem giã nát, xát vào những vết lang ben, lác, lở ngứa, có thể chữa khỏi.
Bấy nhiêu đó cũng đã cảm nhận được hương vị ngọt ngào của loài trái mọc hoang mang cái tên đặc biệt: ô môi!

Làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh và Khánh Thạnh Tân

Từ thành phố Bến Tre du khách đi qua cầu Hàm Luông theo QL60 đến thị trấn Mỏ Cày Nam, đi khoảng 3km du khách rẽ phải sẽ đến làng nghề chỉ xơ dừa An Thạnh, Mỏ Cày Nam. Làng nghề chỉ xơ dừa Khánh Thạnh Tân, Mỏ Cày Bắc cũng cách đó khoảng 10km.




Đây là làng nghề mới phát triển sau này và có vệ tinh nằm rải rác trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là những vùng có trồng nhiều dừa. Nhưng chủ yếu vẫn là ở xã An Thạnh - Mỏ Cày Nam và xã Khánh Thạnh Tân - Mỏ Cày Bắc. Cấu tạo tự nhiên địa giới hành chính 02 địa phương này nằm bên dòng sông Thơm, là điều kiện vô cùng thuận lợi để vận chuyển sản phẩm bằng đường thủy. Người dân Bến Tre vốn từ lâu đã biệt vận dụng, sáng tạo từ cây dừa vốn từ lâu đã quen thuộc với người dân Bến Tre. Dừa được biến hóa ra nhiều sản phẩm rất phong phú và đa dạng. Nhưng đặc biệt, tại hai làng nghề này là sản xuất ra những sản phẩm từ xơ dừa se lại thành chỉ…
Chỉ xơ dừa có nhiều loại khác nhau như chỉ nệm, chỉ xơ cứng, chỉ xơ xoắn, chỉ nệm tráng cao su, thảm dệt, chiếu thảm, thảm trải sàn,… Hiện nay các sản phẩm này được xuất thường xuyên sang các nước Hàn Quốc, Ấn Độ…

Làng nghề bó chổi Mỹ An - Thạnh Phú



Từ làng nghề đúc lu nếu đi đến làng nghề bó chổi khoảng trên 15km. Trên QL57, nếu như làng nghề đúc lu Hòa Lợi rẽ phải, thì làng nghề Mỹ An du khách sẽ rẽ trái đi khoảng 10km. Nghề bó chổi nằm rải rác ở các ấp và tập trung nhiều nhất ở ấp An Hòa, đây là điểm xuất phát đầu tiên của làng nghề. Lúc đầu, chỉ có một vài hộ làm với hình thức nhỏ lẻ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn lâu dài đã được bán ra thị trường ngoài tỉnh.

 Nghề này có thể nói là phổ biến lâu nay ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở xứ có nhiều dừa như Bến Tre. Người ta đã biết vận dụng từ cọng của lá dừa, lá cau, hay cọng của là dừa nước để làm nên những sản phẩm đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau. Ở đây, nhà nào cũng đầy chổi, chổi bó rồi, chổi đang bó, tiếng quay dây cước vào trục nghe rè rè, tiếng kêu ken két đầy ấn tượng, rồi đến tiếng xe máy chở nguyên vật liệu ra vào, khiến làng chổi càng thêm nhộn nhịp. Người dân nơi đây cho biết, nghề này nhẹ nhàng, làm chơi mà ăn thiệt.

Mỗi sản phẩm làm ra là một kỷ niệm thấm đẫm tình người, với biết bao niềm hy vọng tươi sáng của người dân hiền lành, chất phác ở một vùng quê sông nước xứ dừa luôn tin tưởng nghề này không bị mất đi và sản phẩm làm ra có nơi tiêu thụ.

Làng nghề đan đát – Phước Tuy


Nghề đan đát truyền thống Phú Lễ đã tồn tại không dưới trăm năm. Đây là làng nghề xuất hiện ở Bến Tre cũng khá lâu. Làng nghề hiện có đến cả ngàn sản phẩm với hơn mười loại, mẫu mã, kích cỡ đa dạng như bội, bung, rổ, rế, sọt, lờ, lọp, nơm cá,… nguyên liệu chủ yếu là tre, trúc, tầm vông. Lúc đầu nghề đan đát chỉ là nghề phục vụ trong sinh hoạt bình thường của người dân, nhưng về sau khi có nhu cầu về trang trí thì các sản phẩm làm ra đa dạng hơn.
Hiện nay, nghề đan đát phân bố đều trên địa bàn toàn tỉnh, nhưng tập trung nhiều nhất là ở xã Phước Tuy. Ngoài ra còn tập trung rải rác ở các xã khác như Phú Lễ, An Bình Tây và An Đức thuộc huyện Ba Tri. Trong nghề đan đát, ra nan là một công đoạn quan trọng góp phần tạo sự thành công cho sản phẩm.



 Để có những thanh nan đều, đẹp thì sau khi phân đoạn tre, trúc theo đúng quy cách, dùng dao rọc sạch mắt, sau đó chẻ đôi, tiếp tục chẻ đôi cho vừa nan theo quy cách. Chẻ hoặc tách nan bắt đầu từ gốc đến ngọn, ra nan có thể sử dụng dao mác vót để tách nan đều, không bị lỗi. Sau khi ra nan, sử dụng dao mác vót láng (dân gian hay gọi là lau lại cho bóng). Công đoạn kế tiếp là tạo vành cho các loại sản phẩm có sử dụng vành như rổ, thúng, lọp… Tạo vành xong sẽ tiến hành đan. Tùy theo từng loại sản phẩm mà sử dụng cách đan khác nhau như đan long mốt, long hai đối với các lại rổ gánh, rổ xúc, sàng, sịa; long ba dành cho đan thúng; long bốn, năm dùng cho sản phẩm bội... Ngoài ra còn có công đoạn đát, lận vành, nứt vành.

Làng nghề đúc lu Hòa Lợi – Thạnh Phú


Từ thành phố Bến Tre du khách qua cầu Hàm Luông theo QL60 đi khoảng trên 30 km rẽ phải sẽ đến xã Hòa Lợi, huyện Thạnh Phú. Làng nghề này ra đời như một sự cần thiết.
Chính vì sống ở vùng ven sông, tiếp giáp biển nên phần đông người dân ở Hòa Lợi đã tìm cách trữ nước mưa để sử dụng. Ở đây, hầu như nhà nào bà con cũng đúc, đổ các lu, ống chứa nước mưa để dự trữ sử dụng quanh năm.
 Vào mùa nắng, nguồn nước dự trữ này sẽ được dùng để nấu ăn, làm nước uống cho đến mùa mưa năm sau. Đây cũng là nguyên do để hình thành và phát triển làng nghề truyền thống “Làng lu Hòa Lợi”. Nghề này là nghề cha truyền con nối. Trải qua nhiều thế hệ, những người thợ làng lu Hoà Lợi đã sáng tạo ra những công cụ phục vụ cho nghề như cỡ lu (hình chữ C, có hai điểm cố định, khi xoay một vòng sẽ làm cho lu cân đối), cỡ miệng, bay làm láng da lu…
Nhờ vậy mà sản phẩm của làng lu Hòa Lợi “trăm chiếc như một”. Sản phẩm này cũng được tiêu thụ tại địa phương, một số tỉnh bạn và xuất khẩu sang Campuchia.

Làng nghề dệt chiếu (Nhơn Thạnh – An Hiệp – Thành Thới B)



Qua cầu Rạch Miễu theo QL60, đến vòng xoay ngã tư Tân Thành rẽ phải theo đường tỉnh 884 du khách đi khoảng hơn 9km, hay từ TP. Bến Tre đi đường bộ 12km sẽ đến làng nghề dệt chiếu An Hiệp ở ấp Thuận Điền – xã An Hiệp – Châu Thành. Hay du khách có thể đến làng nghề dệt chiếu Nhơn Thạnh nằm ở vùng ven thành phố Bến Tre. Ngay ngã tư Tân Thành du khách theo đường tránh QL60 qua cầu Bến Tre 2, qua xã Mỹ Thạnh An là sẽ đến địa phận xã Nhơn Thạnh. Ở huyện Mỏ Cày Nam cũng có làng nghề dệt chiếu bằng cây cói rất nổi tiếng ở xã Thành Thới B, du khách cứ theo QL60 qua Cầu Hàm Luông đi tiếp khoảng trên 25km theo hướng đi Trà Vinh là đến nơi.

Đối với Bến Tre, nghề dệt chiếu cũng xuất hiện khá sớm, diễn ra quanh năm tại nhiều làng trong xã và thường bắt đầu từ tháng giêng đến hết tháng chạp âm lịch. Tuy vậy, hoạt động sản xuất chiếu thường nhộn nhịp vào những tháng cuối năm, bởi thời gian này, người dân trong tỉnh và những tỉnh thành lân cận thường mua những chiếc chiếu mới, có hoa văn trang trí đẹp về sử dụng trong gia đình, chùa chiền, đền miếu,… Đối với nghề dệt chiếu, phụ nữ được xem là những người thợ chính, bởi họ có sự nhẫn nại và đôi bàn tay mềm mại, tài hoa, nên họ có thể dệt những chiếc chiếu đẹp, bền chắc trong thời gian nhanh nhất. Lát là nguyên liệu chính của nghề dệt chiếu. Do điều kiện khí hậu nên lát được trồng nhiều ở các địa phương trong tỉnh như xã Nhơn Thạnh, thành phố Bến Tre; An Hiệp, Châu Thành; riêng xã Thành Thới B, Mỏ Cày Nam thì nguyên liệu lấy từ cây cói. Những năm trước đây, người dân làng nghề dệt chiếu sử dụng nguyên liệu tại các địa phương trong tỉnh. Ngày nay, do nhu cầu sử dụng chiếu ngày càng nhiều nên phải mua lát từ các tỉnh Vĩnh Long, Đồng Tháp về để sản xuất. Sản phẩm của nghề dệt chiếu được tiêu thụ ở nhiều nơi trong nước, từ nông thôn đến thành thị, từ miền ngược đến miền xuôi, từ Bắc vào Nam. Người thợ dệt chiếu có thể bán trực tiếp cho người dân trên địa bàn hoặc bán cho những người gánh chiếu bán dạo ở các địa bàn lân cận. Ngoài ra, sản phẩm của làng nghề dệt chiếu còn được xuất khẩu ra nước ngoài.


Cách làm bánh ú nước tro


Bánh ú nước tro là món ăn truyền thống trong ngày tết Đoan Ngọ của người dân miền Nam. Ngày nay, chiếc bánh ú nước tro còn xuất hiện trong dịp lễ tết, hay đám giỗ.

Bánh ú nước tro có hình chóp, to bằng nắm tay người lớn, bánh được gói bằng lá tre bên ngoài, bên trong là nếp và nhân đậu xanh. Thành phần có vẻ đơn giản nhưng để làm ra chiếc bánh ú nước tro thì phải trải qua nhiều công đoạn hết sức công phu.

Ngày xưa, để có nước tro làm bánh, người ta lấy rơm nếp đốt lấy tro, hòa với nước cho tan, để lắng và lấy phần nước trong. Ngày nay phần nước tro đã có bán ngoài chợ nên tiện lợi hơn nhiều. Ngoài ra khi làm chúng ta cần lưu ý nếu nếp có độ trong ít thì không đẹp và trong nhiều quá thì bánh có hậu đăng đắng. Điều này tùy thuộc vào kinh nghiệm của người làm.


Cách làm bánh ú nước tro:

– Nếp đãi qua nhiều lần nước cho thật sạch, ngâm gạo nếp vào thau nước lạnh có hòa một ít muối, ngâm khoảng 5-6 tiếng, đãi lại cho sạch.

– Cho nếp vào thau sạch, thêm nước lọc đã hòa với nước tro (một muỗng nước hòa với 1 lít nước), mực nước phải ngập mặt gạo nếp, ngâm 20-22 tiếng. Thỉnh thoảng khi ngâm bạn có thể thử bằng cách lấy vài hạt nếp đã ngâm, để giữa hai đầu ngón tay, bóp nhẹ thấy hạt nếp vỡ nhẹ ra thì nếp đã ngấm đủ nước tro.

– Sau đó, nếp xả lại nhiều lần nước lạnh cho thật sạch, xóc thêm muối vào, để ráo nước

– Đậu xanh đã đãi vỏ, ngâm vào thau nước ấm khoảng 1-2 tiếng. Tiếp theo cho đỗ xanh vào nồi, thêm một ít nước lọc nấu cho đậu xanh chín mềm.

– Khi đậu vẫn đang còn nóng trên bếp, thêm đường vào, dùng muôi gỗ khuấy thật nhanh tay để hạt đậu mịn ra. Cho đỗ xanh vào chảo, sên lửa nhỏ để mặt đỗ hơi se khô lại, nêm đường tùy theo bạn thích ăn ngọt nhiều hay ít, tắt bếp, để nguội, vo viên tròn nhỏ.
Lớp nếp của bánh phải đủ độ trong để lấy phần nhân bánh

Lớp nếp của bánh phải đủ độ trong để lấy phần nhân bánh

– Lá tre rửa sạch, đun nồi nước sôi, cho lá tre vào nồi nước chần sơ qua nước sôi để lá mềm thì sẽ dễ gói hơn,

– Khi gói bánh, người ta cuốn một đầu lá thành hình chiếc phễu, cho vào một ít nếp, nhân, bên trên thêm một lớp nếp nữa và gói lại thành một hình tam giác cho thật kín, dùng dây chuối buộc chặt bên ngoài. Sau khi gói xong, bánh được xếp vào nồi và đem luộc, khi bánh chín, vớt ra ngâm vào nước lạnh cho bánh nguội, sau đó buộc bánh thành từng chùm vào trên lên sàn cho bánh nhanh khô lá.

Khi bóc vỏ ra, chiếc bánh có màu vàng sẫm, trơn láng không dính vào lá. Cắn một miếng để cảm nhận bột bánh mềm, dẻo, phần nhân bên trong có vị ngọt thanh dễ chịu. Bánh ú nước tro dễ ăn, không gây ngán, bột bánh có vị mát nên được nhiều người ưa thích trong những ngày nóng.



Những chiếc lá tre nhỏ nhắn, sợi lạt thanh mảnh bọc lấy những cái bánh trong ngần be bé, xinh xinh… tất cả sự khéo léo, tinh tế đều nằm trong đó. Thú vị là loại bánh này càng nhỏ thì thể hiện người gói càng khéo tay.

Con mắt ghe – Một nét văn hóa độc đáo

Ghe thuyền vừa là phương tiện đi lại, làm ăn, vừa là công cụ gắn liền với phong tục, tập quán, lối sống của cư dân vùng sông nước. Người đi sông đi biển lúc nào cũng coi ghe thuyền là vật linh và quan tâm đến việc trang trí con mắt ghe sao cho thật sinh động, giống như truyền linh hồn cho ghe. Tuy nhiên, mỗi vùng miền đều có một quan niệm khác nhau về con mắt ghe.

Có truyền thuyết cho rằng vẽ giống mắt thuồng luồng sẽ xua các loài thủy quái. Lại có truyền thuyết nên vẽ giống mắt chim ó, khiến thủy quái không dám lại gần. Người sống bằng nghề sông nước lâu năm chỉ cần nhìn vào hình dáng, màu sắc của con mắt ghe là biết được xuất xứ của ghe thuyền từ đâu đến. Chẳng hạn như ghe thuyền ở ĐBSCL thường vẽ mắt tròn, tròng đen, nhãn trắng, toát lên thần thái hiền hòa.

Ngoài con mắt ghe, thợ đóng ghe thuyền còn tôn trọng những quy định thật nghiêm ngặt dù bất thành văn. Chẳng hạn như sau khi cúng ghim lô, miếng ván chuẩn đầu tiên đóng vào sườn ghe phải buộc vải đỏ, tuyệt đối không ai được nằm, ngồi trên miếng ván lô. Sau khi xong, chủ ghe thu lại những cây đinh hoặc bù lon đóng trên miếng ván lô cất kỹ, hoặc ném ra giữa sông rồi trám lại lỗ đinh bằng cây. Làm như thế sẽ không bị kẻ xấu hại. Có người nghĩ rằng nếu dùng đinh đóng lên miếng ván lô sẽ khiến cho thuyền dễ đụng, húc vào thuyền khác.


Mỗi người thợ đóng ghe thuyền đều có những kinh nghiệm và bí quyết riêng trong nghề. Bởi thế dân gian mới có câu “Làm ruộng ăn theo mùa. Làm ghe ăn theo mẹo”.

Tín ngưỡng và những kiêng kỵ thể hiện tấm lòng cầu mong bình an đến với những người sống ở đầu sóng ngọn gió.